TÀI SẢN CHUNG & TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ CHỒNG
Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 (“Luật HNGĐ”) và các quy định hướng dẫn liên quan về xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng đã được điều chỉnh ngày càng phù hợp với tình hình thực tế chung hiện nay, đặc biệt là trong các tình huống phát sinh tranh chấp tài sản khi ly hôn. Theo đó, việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng về nguyên tắc được áp dụng như sau:
Tài sản chung gồm:
- Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp có sự phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân;
- Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung;
- Tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
- Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
(*) Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Tài sản riêng gồm:
- Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn;
- Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;
- Tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định;
- Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
- Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng.
Như vậy, khi kết hôn hoặc trong quá trình giải quyết ly hôn, các bên trong vai trò vợ hoặc chồng nên hiểu nguyên tắc xác định nêu trên để đảm bảo quyền lợi khi sử dụng, giao dịch hoặc phân chia liên quan đến tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng.


Comment